Google Plus Youtube Facebook Twitter
Menu

Tầm soát ung thư phổi

Ung thư phổi là một bệnh lý nguy hiểm có nguy cơ tử vong cao nếu phát hiện chậm. Phát hiện bệnh sớm sẽ giúp giảm chi phí điều trị, giảm tỉ lệ tử vong, và có thể chữa lành.

Phổi là một trong những cơ quan quyết định sự tồn tại của cơ thể. Ung thư phổi là tình trạng các tế bào phổi phát triển một cách không kiểm soát thành khối u và xâm lấn sang các cơ quan lân cận nếu không được điều trị. Các tế bào ung thư này sẽ thay thế các mô lành và làm cho phổi không hoạt động.

Ung thư phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất trong các bệnh ung thư, cao hơn các ung thư khác như đại tràng, vú hay tiền liệt tuyến. Phần lớn số ca tử vong do phát hiện muộn khi nó đã lan rộng. Trong những năm gần đây, mặc dù có tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, tiên lượng của ung thư phổi vẫn còn nghèo nàn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm cũng chỉ là 15%.

Tầm soát ung thư phổi giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và có thể chữa lành.

+ Chụp X-quang phổi:

Có thể phát hiện u phổi, nhưng với những tổn thương nhỏ thường không thấy. Chụp XQ phổi không giúp phát hiện ung thư giai đoạn sớm.

+ Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (CT) hoặc PET-CT:

Có thể phát hiện u phổi (kích thước, vị trí, mức độ xâm lấn), kể cả những tổn thương nhỏ.

Chụp CT Scan ngực liều thấp (low-dose computed tomography: LDCT) rất đơn giản, bệnh nhân không ăn uống trước chụp khoảng 4 giờ, thời gian chụp khoảng 30 phút.

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngưc đánh giá chẩn đoán u phổi tốt hơn chụp x quang nhiều, đặc biệt đánh giá những khối u nằm cạnh tim và mạch máu lớn. Ngoài ra chụp cắt lớp vi tính lồng ngực còn có khả năng chẩn đoán được di căn hạch trung thất, di căn gan, tuyến thượng thận, xương sườn trong trường hợp ung thư phổi giai đoạn muộn.

Chụp PET/CT là dùng đồng vị phóng xạ gắn phân tử đường tiêm vào trong máu. Các tế bào ung thư là những tế bào có nhu cầu chuyển hoá cao và “ăn” đường nhiều hơn tế bào lành. Máy có hệ thống camera để “chụp” toàn thân và hiện hình những cơ quan trong cơ thể qua đó đánh giá được những vùng có tăng hấp thu dược chất phóng xạ. Những vùng tăng hấp thu là những vùng tổn thương ác tính. PET/CT có thể giúp phát hiện di căn hạch, di căn xương, gan, tuyến thượng thận, tuy nhiên không thể phát hiện được những di căn não.

+ Chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI:

Chụp cộng hưởng từ là dùng sóng radio và nam trâm có từ trường mạnh để ghi hình cơ quan trong cơ thể, chụp cộng hưởng từ không dùng tia X cho nên không gây nhiễm xạ cho bệnh nhân. Chụp cộng hưởng từ rất cần thiết đánh giá ung thư phổi vùng đỉnh xâm lấn thần kinh, hoặc hạch trung thất vỡ vỏ xâm lấn thànhc ác mạch máu lớn, di căn não, xâm lấn, di căn vào tuỷ sống.

+ Soi phế quản:

Qua soi phế quản có thể quan sát được khối u xuất phát từ phế quản và thực hiện được các kĩ thuật để lấy bệnh phẩm làm tế bào học, mô bệnh học như sinh thiết phế quản, chải rửa phế quản, sinh thiết phế quản xuyên thành ở vùng tương ứng với khối u.

+ Xét nghiệm mô bệnh học:

Giúp chẩn đoán xác định thông qua bệnh phẩm được lấy từ nội soi phế quản, hoặc qua sinh thiết xuyên thành ngực dưới dẫn cắt lớp vi tính

+ Xét nghiệm tế bào học:

Chọc hút tế bào hạch, chọc dò dịch màng phổi giúp tìm tế bào ác tính

+ Xét nghiệm máu CEA:

Xét nghiệm CEA (Carcinoembryonic antigen) là xét nghiệm đo mức kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) trong máu. Được sử dụng trong theo dõi điều trị bệnh nhân ung thư đại tràng. Ngoài ra, xét nghiệm CEA cũng được sử dụng như một dấu hiệu cảnh báo ung thư tuyến giáp thể tủy, ung thư phổi, vú, gan, tuyến tụy, dạ dày, và buồng trứng.

+ Xét nghiệm SCC

Xét nghiệm định lượng dấu ấn ung thư SCC huyết tương được chỉ định để chẩn đoán, theo dõi sự tiến triển và đáp ứng đối với điều trị các ung thư tế bào vẩy nguyên phát và tái phát, gồm: Ung thư cổ tử cung; Ung thư phổi; Ung thư thực quản; Ung thư vùng đầu, cổ; Ung thư cơ quan sinh dục và tiết niệu

+ Xét nghiệm Cyfra 21-1

Ung thư phổi được chia ra thanh 2 loại chính:

Ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer: SCLC): chiếm 10-15%.

Ung thư phổi tế bào không nhỏ (non-small cell lung cancer: NSCLC) chiếm 85- 90%, gồm 3 thể: ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tuyến và  ung thư biểu mô tế bào lớn.

CYFRA 21-1 là một loại cytokeratin và là các yếu tố cấu trúc cơ bản của bộ khung tế bào biểu mô, gồm cả các tế bào biểu mô phế quản.